Người lao động xin nghỉ việc phải báo trước như thế nào?

 

Câu hỏi của khách hàng: Chào Luật sư, tôi có vấn đề muốn nhờ Luật sư tư vấn về lao động, cụ thể liên quan đến hình thức nghỉ việc:

Tôi làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn tại một doanh nghiệp. Tôi làm việc chính thức từ ngày 5/9/2025 đến hôm nay là ngày 4/8/2026 và được đóng bảo hiểm đầy đủ. Do có dự định chuyển sang công việc mới nên tôi muốn nghỉ việc. Tuy nhiên, tôi được biết có người nghỉ việc bằng đơn xin nghỉ việc, có người gửi email hoặc nhắn tin cho quản lý, thậm chí có trường hợp chỉ thông báo trực tiếp bằng lời nói. Vì vậy, tôi muốn hỏi pháp luật hiện nay quy định người lao động phải báo trước nghỉ việc bằng hình thức nào? Sau đó tôi sẽ được thanh toán các khoản trợ cấp như thế nào? 

Kính mong Luật sư giải đáp. Xin cảm ơn!

Báo trước bao lâu (2)

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật TH, dựa vào thông tin bạn cung cấp, luật sư tư vấn cho bạn như sau:

I. Pháp luật hiện nay quy định người lao động phải báo trước nghỉ việc bằng hình thức nào?

Hiện nay, pháp luật lao động không quy định người lao động khi thực hiện nghĩa vụ báo trước để nghỉ việc phải sử dụng một hình thức thông báo cụ thể. Bộ luật Lao động năm 2019 chỉ quy định về thời hạn báo trước mà không quy định việc báo trước phải thực hiện như thế nào. Quý khách tham khảo quy định pháp luật về thời hạn báo trước tại đây.

Do đó, người lao động có thể lựa chọn hình thức thông báo phù hợp để truyền đạt việc chấm dứt hợp đồng lao động đến người sử dụng lao động. Trên thực tế, các hình thức thường được sử dụng gồm văn bản, phương tiện điện tử và lời nói. Cụ thể như sau:

1. Hình thức bằng văn bản

Mặc dù Bộ luật Lao động 2019 không bắt buộc người lao động phải thông báo nghỉ việc bằng văn bản, nhưng xét dưới góc độ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động khi phát sinh tranh chấp thì việc thông báo bằng văn bản phù hợp với nguyên tắc chứng minh trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động theo quy định tại Điều 91 BLTTDS 2015 sửa đổi, bổ sung 2025. 

Căn cứ theo khoản 1 Điều 94 và khoản 1 Điều 95 BLTTDS 2015 sửa đổi, bổ sung 2025 quy định như sau:

"Điều 94. Nguồn chứng cứ

Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử.

Điều 95. Xác định chứng cứ

1. Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận."

Theo đó, Điều 94 và Điều 95 Bộ luật này quy định tài liệu đọc được nội dung là một trong các nguồn chứng cứ và được sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ việc khi đáp ứng các điều kiện theo luật định. Vì vậy, các văn bản thể hiện việc người lao động thông báo nghỉ việc có thể được sử dụng làm chứng cứ để chứng minh về chủ thể, nội dung, thời điểm nhận thông báo. 

Các văn bản thường được sử dụng trên thực tế gồm:

- Đơn xin nghỉ việc;

- Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động;

- Công văn thông báo nghỉ việc;

- Biên bản làm việc hoặc các văn bản khác có nội dung thể hiện việc người lao động đã thông báo nghỉ việc cho người sử dụng lao động.

2. Hình thức điện tử

Theo khoản 1 Điều 94 BLTTDS 2015 sửa đổi, bổ sung 2025, dữ liệu điện tử cũng là một trong những nguồn chứng cứ được pháp luật thừa nhận.

Căn cứ theo khoản 3 Điều 95 Bộ luật này quy định như sau:

"3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử."

Do đó, email, tin nhắn SMS, Zalo, Messenger hoặc các phương tiện điện tử khác hoàn toàn có thể được sử dụng để chứng minh việc người lao động đã thực hiện nghĩa vụ báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Hình thức bằng lời nói

Về nguyên tắc, việc người lao động trực tiếp thông báo nghỉ việc bằng lời nói cho người sử dụng lao động hoặc người quản lý có thẩm quyền là không trái quy định của pháp luật. Tuy nhiên, hình thức thông báo bằng lời nói tiềm ẩn nhiều rủi ro khi phát sinh tranh chấp. 

Căn cứ khoản 3, 4 Điều 94 và khoản 5 Điều 95 BLTTDS 2015 sửa đổi, bổ sung 2025 quy định như sau:

"Điều 94. Nguồn chứng cứ

Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

......

3. Lời khai của đương sự.

4. Lời khai của người làm chứng.

Điều 95. Xác định chứng cứ

5. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa."

Như vậy, theo Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì lời khai của đương sự và lời khai của người làm chứng là nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự. Đồng thời, khoản 5 Điều 95 Bộ luật này quy định lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ khi được ghi nhận theo hình thức luật định hoặc được trình bày tại phiên tòa.

Do đó, trong trường hợp người lao động thông báo nghỉ việc bằng lời nói, việc chứng minh thường phải dựa vào lời khai của các bên, lời khai của người làm chứng hoặc các chứng cứ khác có liên quan. Điều này dẫn đến khả năng chứng minh thấp hơn so với hình thức văn bản hoặc phương tiện điện tử.

Vì vậy, mặc dù pháp luật không cấm việc báo trước bằng lời nói, người lao động nên ưu tiên sử dụng văn bản hoặc phương tiện điện tử để bảo đảm khả năng chứng minh khi phát sinh tranh chấp.

II. Nghỉ việc được thanh toán trợ cấp như thế nào?

Người lao động có thể được hưởng nhiều khoản quyền lợi khác nhau khi nghỉ việc. Tuy nhiên, không phải cứ nghỉ việc là được hưởng tất cả các khoản trợ cấp mà cần căn cứ theo các tiêu chí như: "thời gian làm việc, thời gian tham gia bảo hiểm và các điều kiện khác theo quy định của pháp luật."

Thứ nhất, căn cứ theo khoản 1 Điều 48 BLLĐ 2019 sửa đổi, bổ sung 2025 quy định như sau:

" Điều 48. Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

......"

Theo đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán đầy đủ tiền lương của những ngày bạn đã làm việc nhưng chưa được thanh toán, tiền nghỉ hằng năm chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết (nếu có) và các khoản quyền lợi khác theo hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc quy chế của doanh nghiệp. Các khoản tiền này phải được thanh toán trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động; trường hợp đặc biệt thì không quá 30 ngày.

Thứ hai, căn cứ theo khoản 1 Điều 46 BLLĐ 2019 sửa đổi, bổ sung 2025 quy định như sau:

"Điều 46. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này."

Do đó, trong trường hợp của bạn thì thời gian làm việc từ ngày 05/9/2025 đến ngày 04/8/2026 chưa đủ 12 tháng nên không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc.

Thứ ba, căn cứ theo Điều 38 Luật Việc làm 2025 quy định như sau:

"Điều 38. Điều kiện hưởng

1. Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật mà không thuộc một trong các trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Lao động hoặc người lao động nghỉ việc khi đủ điều kiện hưởng lương hưu.

b) Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 12 tháng thì phải đóng đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.

c) Đã nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc.

d) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp mà người lao động không thuộc một trong các trường hợp có việc làm và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, dân quân thường trực hoặc đi học tập có thời hạn trên 12 tháng hoặc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù hoặc ra nước ngoài định cư hoặc chết.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Như vậy, trong trường hợp của bạn thì thời gian làm việc từ ngày 05/9/2025 đến ngày 04/8/2026 khoảng 11 tháng. Do đó, nếu đây là toàn bộ thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp của bạn thì hiện chưa đáp ứng điều kiện đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên để hưởng trợ cấp thất nghiệp. Ngược lại, nếu trước khi làm việc tại doanh nghiệp này bạn đã có thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp ở đơn vị khác và thời gian đó chưa được sử dụng để hưởng trợ cấp thất nghiệp thì cần cộng dồn để xác định chính xác điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp của bạn. 

Vậy sau khi nghỉ việc, người lao động có phải thanh toán hay bồi thường khoản nào hay không? Mời quý khách xem thêm tại đây

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ
Công ty Luật TH
Địa chỉ: Số 09 - BT2 Khu đô thị Vạn Phúc, Phường Hà Đông, Thành phố Hà Nội, Việt Nam
MST: 0111093200
Điện thoại:  0392 202 675 - 0942 868185
Email: thlawfirmvn@gmail.com

Bài viết liên quan

Người lao động xin nghỉ việc cần báo trước bao lâu ?
Người lao động xin nghỉ việc cần báo trước bao lâu ?
Quy định về thuê lại lao động, cho thuê lại lao động theo quy định hiện hành
Quy định về thuê lại lao động, cho thuê lại lao động theo quy định hiện hành
CÔNG TY ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CÓ CẦN THÔNG BÁO TRƯỚC KHÔNG ?
CÔNG TY ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CÓ CẦN THÔNG BÁO TRƯỚC KHÔNG ?
Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải chịu hậu quả pháp lý như thế nào?
Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải chịu hậu quả pháp lý như thế nào?