Nghĩa vụ thông báo tài khoản ngân hàng, số hiệu ví điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh

I. Nghĩa vụ thông báo tài khoản ngân hàng, số hiệu ví điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh

Theo khoản 4 Điều 13 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có nghĩa vụ thực hiện thông báo cho cơ quan thuế bằng phương thức điện tử về tất cả các số tài khoản mở tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và số hiệu ví điện tử mở tại tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Quy định này xác lập nghĩa vụ cung cấp thông tin tài chính của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh cho cơ quan thuế, trong đó phạm vi thông tin phải thông báo bao gồm cả tài khoản thanh toán và ví điện tử. Nghĩa vụ thông báo không chỉ giới hạn đối với một tài khoản được sử dụng làm tài khoản kinh doanh chính, mà bao quát các tài khoản có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, việc đưa số hiệu ví điện tử vào phạm vi thông báo phản ánh sự thích ứng của pháp luật quản lý thuế với sự phát triển của các phương thức thanh toán điện tử.

Về phương thức thực hiện, pháp luật yêu cầu việc thông báo được thực hiện bằng phương thức điện tử. 

II. Hồ sơ và biểu mẫu thông báo

Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 18/2026/TT-BTC quy định hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện thông báo thông tin về số tài khoản, số hiệu ví điện tử theo Mẫu số 01/BK-STK – Thông báo số tài khoản/số hiệu ví điện tử ban hành kèm theo Thông tư.

III. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ thông báo

1. Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đang hoạt động có doanh thu năm 2025 từ 500 triệu đồng trở xuống

Theo điểm b khoản 4 Điều 17 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc nhóm có doanh thu năm 2025 từ 500 triệu đồng trở xuống thuộc trường hợp được xác định theo quy định của pháp luật về quản lý thuế đối với nhóm đối tượng này.

Đối với nhóm này, điểm d khoản 1 Điều 4 Thông tư số 18/2026/TT-BTC quy định phải gửi Thông báo số tài khoản/số hiệu ví điện tử theo Mẫu số 01/BK-STK chậm nhất ngày 20 tháng 4 năm 2026.

Việc xác định một thời hạn cụ thể cho nhóm đối tượng này tạo ra mốc thời gian thống nhất để người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ cung cấp thông tin tài khoản, ví điện tử khi chuyển sang cơ chế quản lý thuế theo quy định mới.

2. Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đang hoạt động có doanh thu năm 2025 trên 500 triệu đồng

Theo điểm a khoản 4 Điều 17 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm 2025 trên 500 triệu đồng thuộc nhóm đối tượng tương ứng với quy định này.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 4 Thông tư số 18/2026/TT-BTC, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc nhóm này phải gửi Thông báo số tài khoản/số hiệu ví điện tử theo Mẫu số 01/BK-STK kèm theo Tờ khai thuế đầu tiên của năm 2026.

3. Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh mới ra kinh doanh

Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh mới ra kinh doanh, điểm d khoản 1 Điều 4 Thông tư số 18/2026/TT-BTC quy định phải gửi Thông báo số tài khoản/số hiệu ví điện tử theo Mẫu số 01/BK-STK kèm theo Thông báo doanh thu hoặc Tờ khai thuế đầu tiên của năm 2026.

IV. Nghĩa vụ thông báo khi thay đổi thông tin tài khoản, ví điện tử

Bên cạnh nghĩa vụ thông báo ban đầu, điểm d khoản 1 Điều 4 Thông tư số 18/2026/TT-BTC còn quy định trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thay đổi thông tin số tài khoản, số hiệu ví điện tử thì phải thông báo cho cơ quan thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Quy định này cho thấy nghĩa vụ cung cấp thông tin tài khoản, ví điện tử có tính chất liên tục trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh, chứ không chấm dứt sau khi người nộp thuế hoàn thành thông báo lần đầu. Khi thông tin đã cung cấp cho cơ quan thuế có sự thay đổi, người nộp thuế phải chủ động cập nhật nhằm bảo đảm tính chính xác của dữ liệu quản lý thuế.

V. Ý nghĩa của việc thông báo tài khoản, ví điện tử đối với xử lý tiền thuế nộp thừa

Nghĩa vụ thông báo tài khoản, ví điện tử còn có mối liên hệ với việc xử lý số tiền thuế nộp thừa của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Theo Điều 12 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP, trường hợp số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt mà hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đã nộp hoặc được tổ chức, cá nhân khác khấu trừ, nộp thay lớn hơn số tiền phải nộp thì số tiền nộp thừa được xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, bao gồm bù trừ, hoàn trả hoặc hoàn trả kiêm bù trừ vào ngân sách nhà nước.

Các quy định về hồ sơ hoàn thuế tại Thông tư số 18/2026/TT-BTC tiếp tục cụ thể hóa trình tự, hồ sơ để người nộp thuế thực hiện quyền đề nghị hoàn trả số tiền thuế nộp thừa. Trong bối cảnh đó, thông tin về tài khoản được người nộp thuế cung cấp có vai trò hỗ trợ việc thực hiện thủ tục hoàn trả tiền thuế theo quy định.

Có thể thấy quy định về thông báo tài khoản, ví điện tử không chỉ nhằm phục vụ việc thu thập thông tin của cơ quan thuế mà còn góp phần thiết lập cơ sở dữ liệu tài chính phục vụ toàn bộ quá trình quản lý nghĩa vụ thuế. Việc quy định đồng thời nghĩa vụ thông báo ban đầu và nghĩa vụ cập nhật khi có thay đổi giúp bảo đảm tính liên tục, chính xác của thông tin mà cơ quan thuế sử dụng trong quá trình quản lý và giải quyết các quyền, nghĩa vụ thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ
Công ty Luật TH
Địa chỉ: Số 09 - BT2 Khu đô thị Vạn Phúc, Phường Hà Đông, Thành phố Hà Nội, Việt Nam
MST: 0111093200
Điện thoại:  0392 202 675 - 0942 868185
Email: thlawfirmvn@gmail.com

Bài viết liên quan

Hướng dẫn kê khai thuế GTGT Quý 3 năm 2026 cho Doanh nghiệp theo hệ thống HTKK
Hướng dẫn kê khai thuế GTGT Quý 3 năm 2026 cho Doanh nghiệp theo hệ thống HTKK
Kê khai thuế GTGT Quý
Kê khai thuế GTGT Quý
Quy định về đăng ký mã số thuế cá nhân cho thuê tài sản
Quy định về đăng ký mã số thuế cá nhân cho thuê tài sản
Kê khai thuế cho thuê tài sản cần biết những gì?
Kê khai thuế cho thuê tài sản cần biết những gì?