Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có hiệu lực từ 31/08/2026

1. Tăng 50 lần mức phạt tiền của Chủ tịch UBND cấp xã trong lĩnh vực đất đai 

Căn cứ theo Điều 30 Nghị định 123/2024/NĐ-CP được sửa đổi bởi Điều 6 Nghị định 281/2026/NĐ-CP quy định như sau:

"Điều 30. Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong việc xử phạt vi phạm hành chính
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 250.000.000 đồng;
c) Đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn có thời hạn 03 tháng;
d) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định này."

Căn cứ theo khoản 4 Điều 5 Nghị định 123/2024/NĐ-CP quy định như sau:

"Điều 5. Mức phạt tiền và thẩm quyền xử phạt
4. Mức phạt tiền theo thẩm quyền quy định tại Điều 30 và Điều 31 Nghị định này được áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Mức phạt tiền theo thẩm quyền đối với một hành vi vi phạm hành chính của tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân."

Trước đây, mức phạt tiền tối đa thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã chỉ là 5 triệu đồng.

Theo quy định mới, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền tối đa lên đến 250 triệu đồng – gấp 50 lần so với trước đây, đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn trong thời hạn 03 tháng và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.

Lưu ý, mức phạt tiền theo thẩm quyền nêu trên được áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Mức phạt tiền theo thẩm quyền đối với một hành vi vi phạm hành chính của tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm đất đai của Công an nhân dân được mở rộng 

Theo khoản 5 Điều 7 Nghị định 281/2026/NĐ-CP, các chức danh thuộc lực lượng Công an nhân dân có thẩm quyền được xử phạt đối với một số hành vi vi phạm, cụ thể như:

  • Vi phạm về sử dụng đất an ninh;

  • Vi phạm về sử dụng đất sai mục đích;

  • Lấn đất, chiếm đất;

  • Cản trở hoặc gây khó khăn cho việc sử dụng đất của người khác;

  • Sử dụng giấy tờ giả trong thủ tục đất đai;

  • Vi phạm về cung cấp thông tin đất đai.

Trước đây, Nghị định 123/2024/NĐ-CP chỉ quy định các chức danh Công an được xử phạt theo thẩm quyền đối với hành vi sử dụng giấy tờ giả tại khoản 3 Điều 27.

Ngoài ra, Nghị định mới cũng cập nhật danh sách người có quyền lập biên bản vi phạm hành chính, bao gồm:

  • Trưởng đoàn, thành viên đoàn thanh tra;

  • Trưởng đoàn, thành viên đoàn kiểm tra chuyên ngành đất đai;

  • Trưởng đoàn, thành viên đoàn kiểm tra do thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường thành lập;

  • Công chức, viên chức đang thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai;

  • Công chức, viên chức kiểm lâm đối với vi phạm liên quan đến đất lâm nghiệp;

  • Người thuộc lực lượng Công an nhân dân đối với vi phạm trong lĩnh vực đất đai;

  • Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân đối với vi phạm chế độ quản lý, sử dụng đất quốc phòng.

3. Bổ sung trường hợp không bị phạt do không đăng ký biến động đất đai

Căn cứ theo khoản 2 Điều 16 Nghị định 123/2024/NĐ-CP được sửa đổi bởi Điều 4 Nghị định 281/2026/NĐ-CP quy định như sau:

"Điều 16. Không đăng ký đất đai
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đăng ký đất đai lần đầu theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 132 Luật Đất đai.
2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đăng ký biến động đất đai theo quy định tại các điểm a, b, i, k, l, m và q khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai, trừ trường hợp nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thông qua việc thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 127 Luật Đất đai.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc thực hiện đăng ký đất đai theo quy định."

Theo quy định hiện hành, hành vi không đăng ký biến động đất đai trong các trường hợp bắt buộc sẽ bị xử phạt từ 2-3 triệu đồng. Tuy nhiên, từ ngày 31/8 đã bổ sung trường hợp ngoại lệ: Không áp dụng mức phạt trên đối với trường hợp nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất theo Điều 127 Luật Đất đai.

Đối với các trường hợp đã lập biên bản vi phạm trước ngày 31/8/2026 nhưng chưa ban hành quyết định xử phạt sẽ không bị xử phạt. Đối với các quyết định xử phạt đã ban hành trong khoảng thời gian từ ngày 31/1/2026 đến trước ngày 31/8/2026 nhưng người vi phạm chưa thực hiện thì cũng không tiếp tục thi hành.

4. Vợ chồng chung quyền sử dụng đất bị xử phạt như một cá nhân

Theo khoản 2 Điều 3a Nghị định 123/2024/NĐ-CP, được bổ sung bởi Điều 1 Nghị định 281/2026/NĐ-CP, quy định:

"Vợ và chồng chung quyền sử dụng đất thì áp dụng xử phạt vi phạm hành chính như đối với một cá nhân."

Trước đây, Nghị định 123/2024/NĐ-CP chưa có quy định riêng về nguyên tắc xử phạt trong trường hợp vợ và chồng cùng có quyền sử dụng đất. Nghị định chỉ xác định cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, tổ chức là những đối tượng bị xử phạt; trong đó hộ gia đình và cộng đồng dân cư bị xử phạt như đối với cá nhân vi phạm.

Với quy định mới, nếu một hành vi vi phạm hành chính xảy ra trên thửa đất thuộc quyền sử dụng chung của vợ chồng thì vợ chồng được tính như một cá nhân để áp dụng mức phạt.

Ví dụ, đối với hành vi không đăng ký biến động đất đai bị phạt từ 02 - 03 triệu đồng theo khoản 2 Điều 16 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, vợ chồng chung quyền sử dụng đất không bị xác định thành hai cá nhân để nhân đôi mức tiền phạt.

Tuy nhiên, quy định này chỉ điều chỉnh cách xác định đối tượng và mức phạt trong trường hợp vợ chồng chung quyền sử dụng đất. Tùy hành vi, người vi phạm vẫn có thể bị buộc đăng ký đất đai, khôi phục tình trạng ban đầu của đất, nộp lại số lợi bất hợp pháp hoặc thực hiện các biện pháp khác theo quy định.

5. Bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả đối với vi phạm đất đai

Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định 281/2026/NĐ-CP đã bổ sung 4 biện pháp vào danh mục các biện pháp khắc phục hậu quả khi xử phạt xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, gồm:

- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm;

- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của mốc địa giới đơn vị hành chính;

- Buộc thực hiện lại thủ tục hành chính về đất đai;

- Buộc nộp lại các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung; giấy tờ giả đã sử dụng.

Bên cạnh đó, Nghị định 281/2026/NĐ-CP bãi bỏ biện pháp buộc thực hiện thủ tục để được phê duyệt dự án chăn nuôi tập trung có quy mô lớn trước đây được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 4 Nghị định 123/2024/NĐ-CP.

 

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ
Công ty Luật TH
Địa chỉ: Số 09 - BT2 Khu đô thị Vạn Phúc, Phường Hà Đông, Thành phố Hà Nội, Việt Nam
MST: 0111093200
Điện thoại:  0392 202 675 - 0942 868185
Email: thlawfirmvn@gmail.com

Bài viết liên quan

Quy định về thời gian sang tên sổ đỏ mới nhất hiện nay
Quy định về thời gian sang tên sổ đỏ mới nhất hiện nay
Thừa kế theo pháp luật được quy định như thế nào?
Thừa kế theo pháp luật được quy định như thế nào?
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (ERC) là gì?
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (ERC) là gì?
Quy định về khai báo tạm trú cho người nước ngoài từ 24/7/2026
Quy định về khai báo tạm trú cho người nước ngoài từ 24/7/2026